BẢO TÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG MỞ CỬA ĐÓN KHÁCH THAM QUAN VÀO CÁC NGÀY THỨ 3, THỨ 5 VÀ THỨ 7 HÀNG TUẦN 
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

      Theo gia phả, thủy tổ dòng họ Trần Điền Trì có nguồn gốc từ làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, thành Nam(1). Do biến cố của lịch sử cuối thời Trần, cụ tổ đã cùng người con trai ly tán về Điền Trì (nay là Trực Trì) sinh sống và mất tại đây vào khoảng giữa thế kỷ XV. Con trai cụ là Trần Nhàn ở lại mảnh đất này sinh cơ lập nghiệp, đến nay đã trở thành một dòng họ lớn, 23 đời nối tiếp nhau. Đặc biệt vào đời thứ 9, 10, 11 dòng họ Trần Điền Trì sinh ra Trần Thọ, Trần Cảnh, Trần Tiến (ba đời Ông - con - cháu) cùng thi đỗ Tiến sĩ, làm quan, được triều đình trọng dụng và giữ nhiều chức vụ quan trọng.
      1. Thân thế sự nghiệp ba vị Tiến sĩ 
         “Lê triều lũy thế trâm bào anh thanh phất dẫn
         Tức Mặc niên mệnh mạch thanh phúc trường lưu”.
            Dịch nghĩa là:
      “Nhiều đời triều Lê được mặc áo bào, cài trâm, tiếng tăm vẻ vang không bao giờ hết
      Mạch sống muôn năm Tức Mặc phúc đẹp mãi mãi lưu truyền”.
      Câu đối trên được treo tại nhà thờ họ Trần, Điền Trì (Quốc Tuấn - Nam Sách), di tích được Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Hải Dương xếp hạng theo Quyết định số 4981/QĐ-UBND ngày 01/11/2005, dường như đã khái quát được truyền thống văn hóa, hiếu học và khoa bảng vẻ vang của dòng họ Trần Điền Trì, trong đó tập trung vào ba vị Tiến sĩ Trần Thọ, Trần Cảnh và Trần Tiến.
      Trần Thọ sinh ngày 6 tháng 10 năm Kỷ Mão (1639), tự là Nhuận Phủ, dưới thời trị vì của vua Lê và chúa Trịnh Tráng, khi cuộc nội chiến Đàng Trong - Đàng Ngoài đã diễn ra hơn một thập kỷ. Sinh thời, Trần Thọ tướng mạo khôi ngô, lúc nhỏ ở bên ngoại, cần cù học tập từ tuổi nhi đồng. Lớn lên học càng tiến, văn chương như nước chảy. Ông thi đậu Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670)(2), khoa thi này, triều Lê lấy đỗ 31 người, đủ cả tam giáp. Sau một thời gian giữ chức Cấp sự trung, Trần Thọ được thăng lên chức Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây. Trong nội dung văn bia “Tạo phối thần bi”(3) ở đình xã Mạn Đê, tổng Mạn Đê, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 (1677); văn bia “Sáng tạo đình miếu/Công đức bi”(4) ở đình xã Quan Sơn, tổng An Dật, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã An Sơn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679) và văn bia “Nhị xã/Tạo lập/Phụng tự/Hậu thần”(5) ở đình xã Trực Trì, tổng An Ninh, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686), đều do Trần Thọ soạn có đề rõ chức vị của ông là Cẩn sự lang, Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây. Giám sát Ngự sử hay còn gọi là Ngự sử là chính ngũ phẩm (phẩm thứ năm) trong chín phẩm hàm quan văn(6).
      Theo “Niên phả lục” cho biết thì năm 1684, Trần Thọ đang giữ chức Đốc đồng đạo Sơn Tây. Từ chức Đốc đồng, Trần Thọ được thăng lên chức Phó đô ngự sử. Chức quan này của ông được ghi trong văn bia “Nhị xã/Tạo lập/Phụng tự/Hậu thần” ở xã Trực Trì, tổng An Ninh, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương(7). Văn bia do Trần Thọ soạn năm Chính Hòa thứ 7 (1686). Năm Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 9 (1688), Trần Thọ và Đốc đồng Đặng Đức Nhuận được cử lên Tuyên Quang phối hợp cùng với Trấn thủ Tuyên Quang - Hưng Hóa là Lê Huyến đưa thư sang Vân Nam tranh biện đòi lại vùng đất thuộc hai châu Vị Xuyên, Bảo Lạc thuộc trấn Tuyên Quang và châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa của nước ta bị Thổ ty Vân Nam xâm chiếm từ trước. Việc tuy không thành nhưng từ sự kiện này, triều đình Lê - Trịnh càng tỏ rõ quyết tâm đòi lại phần đất đã bị nhà Thanh xâm chiếm. Cuộc đấu tranh ngoại giao đòi lại một phần lãnh thổ bị mất trước kia, kéo dài từ năm 1688 đến năm 1728 (tròn 40 năm) mới hoàn thành trọn vẹn thông qua sự kiện dựng bia xác lập ranh giới giữa hai nước ở sông Đổ Chú (Tuyên Quang) vào năm 1728. Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận và Tiến sĩ Nguyễn Công Thái được triều đình Lê - Trịnh ủy nhiệm công việc dựng bia.
      Năm Canh Ngọ, niên hiệu Vĩnh Trị 11 (1690), Trần Thọ được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh tuế cống, đến năm 1692 trở về nước. Do có công đi sứ, Trần Thọ được thăng từ Phó đô ngự sử lên chức Công bộ Hữu thị lang, được giữ chức Bồi tụng ở Phủ đường và ban tước Phương Trì nam. Trong một đạo sắc ban cho bà Đàm Thị Cấn (mẹ Tiến sĩ Trần Thọ) vào năm Chính Hòa 14 (1693) nói rõ “vì là mẹ đẻ của Quang tiến Thận lộc đại phu, Bồi tụng, Công bộ Hữu Thị lang, Phương Trì nam Trần Thọ nên được dự vào diện ấm phong… tặng cho là Tham chính Lệnh nhân...(8). Thời gian này, Trần Thọ vừa giữ chức Công bộ Hữu thị lang bên Triều đường vừa kiêm chức Bồi tụng ở Phủ đường. Bồi tụng thực chất là Á tướng, đứng sau Tể tướng. Ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa 21 (1700), Tiến sĩ Trần Thọ qua đời, hưởng thọ 62 tuổi, sau được tặng phong Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Phương Trì hầu (9).
      Trần Cảnh, là trưởng nam của Tiến sĩ Trần Thọ. Ông sinh ngày 14 tháng 11 năm Giáp Tý, niên hiệu Chính Hòa thứ 5 (1684), tự là Oánh Phủ. Theo “Niên phả lục”, Tiến sĩ Trần Cảnh từng tham gia trận mạc trong khoảng 10 năm, từ năm 1739 khi giữ chức Đốc đồng Thanh Hóa, tham gia trấn áp cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật, Lê Duy Quy và Lê Duy Chúc ở các địa phương miền núi Thanh Hóa đến khi theo đại quân của Trịnh Doanh đánh dẹp cuộc nổi dậy của Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây( ). Trần Cảnh đỗ Hương cống năm Tân Mão (1711) khi ông 28 tuổi và đến năm 35 tuổi, ông đỗ Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh 14 (1718). Khoa thi này, sĩ tử tham gia ứng thí là 3.000 người, lấy đỗ được 17 người, đủ cả ba giáp. Sau khi đỗ, ông được bổ nhiệm làm Giám sát Ngự sử đạo An Quảng (Quảng Ninh ngày nay), sau chuyển làm Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam (1719), đạo Nghệ An (1720). Năm 1721, được thăng chức Đốc đồng xứ Sơn Nam và sau đó được điều chuyển về Kinh giữ chức Hàn lâm viện Thị chế năm 1727. Năm 1728, ông được bổ giữ chức Hiến sát sứ Hưng Hóa, đến năm 1730 lại điều chuyển làm Hiến sát sứ Thanh Hoa. Năm 1732, được thăng Đông các Học sĩ, là một chức quan ở tòa Đông Các. 
Năm 1736, Trần Cảnh được thăng làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên, đây là chức quan đứng đầu Kinh đô Thăng Long thời bấy giờ với phẩm hàm Chánh ngũ phẩm, đến năm 1737, ông chuyển sang giữ chức Thượng bảo Tự khanh. Từ năm 1739 đến năm 1751, để đối phó với phong trào nổi dậy của nhân dân diễn ra ở nhiều địa phương Đàng Ngoài, triều đình Lê - Trịnh đã điều động phần lớn quan lại (kể cả các bậc đại khoa) và quân lính tham gia trấn áp. Cũng trong thời gian này, Trần Cảnh được bổ nhiệm, thuyên chuyển, điều động kiêm giữ nhiều chức vụ hoặc làm các công việc có liên quan đến việc quân như Tham đốc, Hiệp đồng, Tán lý…Tuy nhiên, đây chỉ là những chức, những công việc tạm thời, về cơ bản ông vẫn giữ những chức quan cụ thể ở triều đình hoặc chức quan ngoại nhiệm (địa phương).
Tháng 4 năm 1740, Trần Cảnh được thăng làm Tế tửu Quốc Tử Giám để phụng mệnh trông coi nhà Văn miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo Chỉ truyền, hằng tháng theo đúng kỳ cho học trò trường Giám tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước. Giữ chức này khoảng vài tháng, đến tháng 5 năm 1740, Trần Cảnh được điều chuyển làm Hàn lâm viện Thị độc, được ban tước Hầu và đến tháng Giêng năm 1741, Trần Cảnh được thăng lên chức Tả thị lang Bộ Lại. Đây là Bộ rất quan trọng trong Lục bộ triều đình bấy giờ, chuyên lo việc chính sự thăng giáng về văn quan trong kinh, ngoài trấn; chỉnh đốn phương pháp làm quan để giúp việc chính sự trong nước. Đứng đầu mỗi bộ có chức Thượng thư và chức phó của Thượng thư là Tả, Hữu thị lang. Cũng trong năm này, Trần Cảnh được thăng làm Nhập thị Tham tụng ở Phủ đường (phủ chúa Trịnh), ban tước Diệu quận công. Theo Phan Huy Chú "Tham tụng tức là Tể tướng nhưng đó chỉ là quyền chứ không phải là chức, cho nên khi dùng người không cứ phẩm thứ, có khi Thượng thư vào làm tham tụng, có khi Thị lang hành tham tụng"(10). 
      Tuy nhiên, hoạn lộ của ông ít hanh thông, thường gặp trắc trở, một phần do thời cuộc, một phần do bản tính cương cường của ông, không chịu để quyền thần đè nén. Tham gia trận mạc gần 10 năm, có trận thắng, trận thua, được thăng thưởng rồi bị giáng chức, có lần giáng đến 6 tư nhưng Trần Cảnh vẫn thể hiện một tấm lòng trung quân hết mực, thể hiện đạo của người theo nghiệp thánh hiền. Tháng 8 năm 1741, Trần Cảnh từ chức Tham tụng ở phủ đường được điều ra làm Hiệp trấn xứ Hải Dương. 
      Năm 1748, sau 30 năm gập ghềnh hoạn lộ, Trần Cảnh về trí sĩ ở tuổi 65, được thăng chức Thượng thư Bộ Công. Trong thời gian về trí sĩ, vui với ruộng đồng để thỏa chí “Minh nông” (hết sức làm nông nghiệp, khuyến khích làm nông nghiệp) của mình, ông thấy ở địa phương còn nhiều ruộng chưa cày cấy, dân lưu vong đã trở về, cần phải chiêu phủ họ để họ lo việc nông trang. Do đó, bèn khải tấu lên triều đình và chiêu mộ dân ly tán ở các huyện, khai hoang lập ấp ở một số làng xã dọc triền sông Kinh Thầy, từ Nam Sách, Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dương) đến Đông Triều (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng) ngày nay, được vua Lê phong chức “Hải Dương khuyến nông sứ”. Trên cơ sở hướng dẫn dân trồng cấy, ông đã soạn bộ sách “Minh nông chiêm phả”, dâng vua Lê Hiển Tông vào năm Kỷ Tỵ (1749), được coi là bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta. Tiếc thay, bộ sách quý của ông đã bị thất lạc. Cũng trong thời gian này, ở các địa phương Đàng Ngoài, phong trào nông dân lan rộng, đặc biệt là các cuộc nổi dậy của Vũ Đình Dung ở Sơn Nam, Nguyễn Hữu Cầu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, Hoàng Công Chất ở Hưng Hóa… Lúc này, Trịnh Doanh rất cần những người phò tá giỏi chính sự, thạo việc quân cơ nên đã cho vời Trần Cảnh trở lại triều, khởi phục chức Nhập thị Tham tụng, thăng Thượng thư bộ Hình, cùng với Lê Hữu Kiều chấp chính ở Phủ đường. Trong dụ chỉ khởi phục Trần Cảnh có viết: “Trần công là bậc nguyên lão, đức độ đủ đầy, tự lập nghiệp không cần dựa thế, tính trời sinh vốn cương nghị, am hiểu việc quân cơ, phụng chuẩn cho được vào chầu ở viện Cơ mật, cần phải ngày đêm tận tâm, để không phụ lòng ủy nhiệm”(11). 
      Cuối năm 1750, Trần Cảnh hộ giá Trịnh Doanh đi đánh Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây. Vì có công hộ giá, thắng trận nên từ chức Thượng thư bộ Hình, ông được thăng chức Thượng thư bộ Binh. Năm 1758, Trần Cảnh được thăng Thượng thư bộ Lễ, là bộ chuyên giữ công việc về lễ nghi, tế tự, tiệc mừng, tiệc yến, trường học, thi cử, áo mũ, ấn dấu, chương tấu, bài biểu, đi sứ, đi triều cận, lại kiêm trông coi các ty thuộc tư thiên, y bốc cùng là tăng đạo, giáo phường, đồng văn, nhã nhạc.Trần Cảnh qua đời ngày mồng 5 tháng 6 năm Mậu Dần (1758), hưởng thọ 75 tuổi. Biết tin ông mất, nhà vua vô cùng thương xót, ban cho tên thụy là Trung Nhã, phong tặng là Thiếu bảo, nghỉ chầu ba ngày, ban cho điếu tang: Tiền sử 350 quan, phụng cấp tế tự là hai xã (Hộ Xá và Lôi Động), làm lễ dụ tế theo điển lễ, đặc sai quan Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu Tả thị lang bộ Công tước Bảo Lĩnh hầu là Trần Danh Ninh đọc Dụ tế, được nhân dân thờ tại văn từ Linh Khê, phần mộ của ông đặt tại khu lăng Đình Gia (thuộc xóm 3, thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn), cách nhà thờ họ khoảng 300 m về phía Tây Nam. Không chỉ vậy, ông còn được người dân xã Khương Tự, phủ Thuận An, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc bầu ông làm hậu bụt, thờ tại chùa Cổ Châu (nay là chùa Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
      Có thể nói, với hơn 40 năm làm quan, hoạn lộ của Trần Cảnh không thực sự hanh thông nhưng ông cũng đã đạt đến đỉnh cao quyền lực. Bên Triều đường, ông trải qua nhiều chức quan trong triều, Thượng thư các bộ: Lễ, Binh, Hình và Công, bên Phủ đường, ông từng giữ chức Tham tụng. Những cống hiến của Trần Cảnh trên lĩnh vực chính trị - quân sự đã được phản ánh khá rõ nét qua nội hàm các chức quan ông từng đảm nhiệm. Ngoài ra, trên lĩnh vực giáo dục, khoa cử, Trần Cảnh cũng có nhiều đóng góp thiết thực trong việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài qua nhiều sự kiện nổi bật, như mở trường dạy học ở quê (năm 1709), làm Giám khảo các kỳ thi Hương xứ Kinh Bắc (1720); trường Sơn Tây (1726, 1735) hay Đề điệu trường thi Thanh Hoa (1743)… và trên hết, ông từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, trường Nho học cao cấp - nơi đào tạo nhân tài cho đất nước. Trong dòng họ, ông cũng là người kế tục xuất sắc truyền thống Nho học được truyền từ tổ phụ (Giám sinh Quốc Tử Giám Trần Phúc) đến thân phụ (Tiến sĩ Trần Thọ) và tiếp lửa truyền thống cho thế hệ kế tiếp là trưởng nam Trần Tiến, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748).
      Trần Tiến Trần Tiến sinh ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) (12). Thủa nhỏ ông tên là Tân, lớn lên đổi thành Kính, khi đi thi đổi là Tiến, tự là Khiêm Đường, hiệu Cát Xuyên. Ông là con trai của Diệu quận công Trần Cảnh - Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718) và là cháu đích tôn của Phương Trì hầu Trần Thọ - Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670). Xuất thân trong một gia đình truyền thống Nho học, từ năm lên 9 tuổi Trần Tiến được thụ giáo nhiều kiến thức từ thân phụ khi ông về cư tang vợ (từ năm 1723 đến 1725), sau đó lên Kinh đô theo học các bậc túc Nho và được vào học tại Quốc Tử Giám. Ông đỗ Hương cống năm 1729 nhưng thi Hội nhiều lần không đỗ nhưng nhờ tập ấm của cha nên được bổ nhiệm Tư vụ bộ Binh trong thời gian ngắn để giúp việc binh vì lúc đó triều đình phải liên tục điều quân đánh dẹp các cuộc nổi dậy. Khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748), Trần Tiến đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân(13). Khoa thi này có hơn 3.000 sĩ tử ứng thí, lấy đỗ 13 người, chia ba giáp. 
      Năm 1749, Trần Tiến được bổ làm Hiệp đồng đạo Sơn Tây, tháng 8 năm 1749 được cử làm Đốc đồng xứ Hải Dương và đến tháng 6 năm 1753, được điều về Kinh giữ chức Phủ Doãn phủ Phụng Thiên. Năm 1756, Trần Tiến bị miễn chức Thị Phủ doãn phủ Phụng Thiên, cho ra trông coi việc đê điều ở các xứ Hải Dương, Sơn Tây. Đến tháng 11 năm 1757 được thăng Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam, Hiến sát xứ Sơn Nam, sau đổi làm Hiến sát sứ Sơn Tây (1762). Năm 1763, Trần Tiến được thăng chức Tham chính sứ Thanh Hoa. Năm 1766, ông được điều về Kinh giữ chức Hàn lâm viện thị thư với nhiệm vụ biên chép các văn thư. 
      Trần Tiến là người thuần hậu, khiêm nhường, chân chất, thật thà, cần kiệm, thẳng thắn mà ôn hòa, khoan dung mà chừng mực, hòa nhã mà không lấn lướt, khi mũ cao, áo dài không hổ với khi quần thô áo mộc, nhà khi đạt đến đỉnh chung vẫn không coi khinh rau rệu. Khi thiếu thời mọi việc đều nghe người làng, người xóm, lớn lên cật lực học hành, dùng văn chương để nối nghiệp nhà. Ông khi chưa đỗ đạt, đấng tổ khảo đang ở trong chính phủ, vẫn một mình ở chốn doanh trung miệt mài sách vở, sớm hôm cùng chú tiểu đồng. Muốn thành sự nghiệp chẳng nghĩ gì ngoài việc học hành. Sau khi đỗ đại khoa, vẫn đọc sách không rời bàn học. “Khi đã nhậm chức, là bậc thân sĩ đứng đầu triều liệt. Thanh liêm, thận trọng khi làm quan, ông trung với nước, sáng suốt phát hiện kẻ gian, oai phong khiến quyền hào bị khuất phục, khắp đô thành coi ông như chú “Hổ đang nằm”, hai lần ra trấn quận ty, ân trùm xuống dân. Ông đề bạt kẻ sĩ, các châu quận ngưỡng mộ trông ông như vọng phúc tinh. Người trong nước gọi ông là bậc hiền tài, triều sĩ coi ông là người chính trực”(14).
      Sự nghiệp chính trị của Trần Tiến không thực sự nổi bật như trước tác và sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nhưng ông là tác giả của các tác phẩm “Đăng khoa lục sưu giảng”, “Cát Xuyên thi tập” và “Niên phả lục”. Đây là những công trình có giá trị sử liệu, văn chương rất lớn, trong đó có cuốn “Niên phả lục” được ông viết vào năm Cảnh Hưng 25 (1764) đang lưu giữ tại nhà thờ họ. Trần Tiến mất vào giờ Mão ngày 7 tháng 5 năm Canh Dần (1770), hưởng thọ 62 tuổi, được tặng phong Công bộ Hữu thị lang, tước Bá. 
      Do có nhiều công lao với dân, với nước, ba vị Tiến sĩ Trần Thọ, Trần Cảnh, Trần Tiến đã được triều đình phong kiến nhà Lê ban tặng nhiều sắc phong vào các năm: Cảnh Trị 9 (1671), Chính Hòa 3 (1682), Chính Hòa 4 (1683), Chính Hòa 7 (1686), Chính Hòa 13 (1692), Chính Hòa 14 (1693), Vĩnh Thịnh 14 (1718), Vĩnh Thịnh 15 (1719), Vĩnh Thịnh 16 (1720), Vĩnh Khánh 2 (1730), Long Đức nguyên niên (1732), Vĩnh Hựu 4 (1738), Cảnh Hưng nguyên niên (1740), Cảnh Hưng 9 (1748), Cảnh Hưng 10 (1749) và Cảnh Hưng 19 (1758).
      Ba thế hệ liên tiếp của dòng họ Trần Điền Trì gồm ông, cha và con cùng đỗ Tiến sĩ dưới triều hậu Lê vào các năm Canh Tuất (1670), Mậu Tuất (1718), Mậu Thìn (1748) và đều có đóng góp cho sự nghiệp của đất nước được sử sách ghi nhận; ghi tên vào bảng vàng, bia đá tại Văn miếu Quốc Tử Giám và để lại nhiều tác phẩm có giá trị; nêu tấm gương sáng về đạo đức cho con cháu noi theo quả là hiếm thấy; xứng đáng được vinh danh là dòng họ khoa bảng. 
      2. Di sản văn hóa của ba vị Tiến sĩ và việc bảo tồn, phát huy giá trị tại Nhà thờ họ Trần Điền Trì
Có thể nói, gần 30 năm làm quan, Trần Thọ đã mang tài năng, phẩm chất của mình phục vụ ba triều vua Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông và Lê Hy Tông. Ông là người khai khoa cho dòng họ, tạo tiền đề cho con cháu nối tiếp truyền thống học hành, khoa cử giành bảng vàng, gây tiếng vang cho dòng họ, quê hương. 
      Ông được các sử gia triều Nguyễn đánh giá là một trong những nhân vật tiêu biểu thời hậu Lê của tỉnh Hải Dương(15). Không chỉ là một nhà chính trị, ngoại giao, Tiến sĩ Trần Thọ còn là một nhà thơ, tác phẩm của ông có “Nhuận Phủ thi tập” hiện còn ba bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn. Ngoài ra, ông còn là tác giả của một số bài văn bia như: “Tạo phối thần bi” tại đình xã Mạn Đê, tổng Mạn Đê, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 (1677); văn bia “Sáng tạo đình miếu/Công đức bi” ở đình xã Quan Sơn, tổng An Dật, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã An Sơn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679); văn bia “Nhị xã/Tạo lập/Phụng tự/Hậu thần” tại đình xã Trực Trì, tổng An Ninh, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686) và văn bia “Hậu thần bi ký”(16) tại đình xã Chính Trung, tổng Dũng Liệt, huyện Yên Phong, trấn Bắc Ninh (nay là xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) niên hiệu Vĩnh Trị nguyên niên (1676). Phần mộ ông được táng tại Đống Làng (nay thuộc xóm 2, thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn, cách nhà thờ khoảng 1,5 km về hướng Bắc. Năm 1990, con cháu trong dòng họ đã tôn tạo lại cho khang trang.
      Trong “Niên phả lục” có ghi chép, khắc họa khá rõ nét về Tiến sĩ Trần Cảnh từ ngoại hình, tính cách, phẩm chất, nếp ăn, ở, công trạng, sự nghiệp và di huấn của ông về cách dạy con cái làm người. Ông là người dung mạo tôn nghiêm, thần thái anh nghị, mặt vuông, tai to, trán rộng, mũi cao, nhãn lực hơn người, trong đêm vẫn có thể đếm được buồng cau bao nhiêu quả, giọng nói vang như chuông ngân, ngâm vịnh sang sảng, người nghe biết ngay là quý tướng. Văn chương, mạch lý đều hay, câu cú chỉnh chệ, có tài thao lược, tế thế kinh bang, văn võ toàn tài. Ngày thường chưa từng việc binh, chưa đọc binh pháp mà vào trận thì làm chủ và chiến thắng, liệu địch mà bày kỳ trận, nhất nhất đều tỏ rõ hơn người. Tính tình trang nghiêm, không hiểu những lời quanh co, ghét điều ác như kẻ thù, ngay đến quan to chức trọng cũng kính nể. Đối với ăn mặc tiêu dùng, ông chỉ cốt sao tiết kiệm, không xây nhà cao. Hồi ông bị đau mắt, các quan trung quý (quan có quyền thế) vâng chỉ đến thăm. Khi đến nơi, họ mới biết nhà cửa của ông, cho rằng phải thay đổi, bậc đại thần không thể ở chỗ tồi tàn như vậy. Tuy được hiển quý vào hàng khanh tướng, nhưng ông không ăn mặc cầu kỳ, dù được đại triều phẩm dụng ngọc tê, nhưng vẫn ăn mặc như xưa không đổi. Ăn không dùng của ngon vật lạ, mỗi khi có việc phải đến nhà con em hoặc đến nhà dân các xã trước hết răn họ không nên câu nệ hình thức, không được giết gà, mổ lợn, nói rằng: “Tôm cá tuy là loài vật nhỏ, nhưng cũng bất đắc dĩ lắm mới phải dùng, còn gà, lợn thì không thể được”. Đối với con cái, ông dạy con tỉ mỉ, từ việc nhỏ đến việc lớn, từ cách ứng xử với gia đình, họ hàng, bạn bè đến việc quốc gia, từ đồ ăn thứ mặc đến tang ma giỗ chạp,… 
      Điều ông nhắc nhở nhiều nhất vẫn là sự tiết kiệm, thương người, không sát sinh hại vật, luôn nhớ đến ơn tổ tiên, ơn những người đã đùm bọc mình trong cơn khốn khó,“tri túc, tri chỉ” (biết đến đâu là đủ, biết đến đâu là dừng). Con cháu hiền lành là nhờ ở đức. Đức là gì? Kính thờ trời đất quỷ thần không dám nhờn. Kính vâng gia tiên tổ khảo không dám quên. Anh em một bọc thì thương yêu nhau. Họ hàng một gốc thì gần gũi nhau. Giúp người nạn, thương người cùng. Đối với dân, khi nắm quyền, ông coi thiên hạ là trách nhiệm của mình, nghĩ trước lo sau hết lòng vì họ, việc gì đáng làm thì làm ngay, không cầu danh tiếng, dân lành được đội ơn(17). Dân xã Khương Tự, phủ Thuận An, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc bầu ông làm hậu bụt, thờ tại chùa Cổ Châu (nay là chùa Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). “… Trước đây, trong xã thường được ơn sâu của tướng công(18), bèn thờ tướng công cùng phu nhân làm hậu bụt. Hàng năm, vào ngày kỵ lễ đều dâng xôi hai mâm, hoa quả một bàn, kim ngân một ngàn, trầu cau một hộp để cúng. Lại đến ngày mồng 6 tháng 4 nghênh thỉnh hành lễ, ca hát ba chầu. Bởi vì, lấy lễ thờ Phật, thờ thần mà kiêm luôn thờ tướng công để báo đáp ơn sâu, để biểu dương tấm lòng trung hậu của quê ta, đời đời con cháu không thể quên vậy” (19). 
      Sự nghiệp chính trị của Trần Tiến không thực sự nổi bật như trước tác và sự nghiệp giáo dục, đào tạo của ông lại được ghi nhận. Ông là tác giả các tác phẩm “Đăng khoa lục sưu giảng”, “Cát Xuyên thi tập” và “Niên phả lục”. Đây là những công trình có giá trị sử liệu, văn chương rất lớn, trong đó có cuốn “Niên phả lục” được ông viết vào năm Cảnh Hưng 25 (1764) đang lưu giữ tại nhà thờ họ. “Niên phả lục” về hình thức là ghi chép các đời của dòng họ, nhưng bộ sách lại có giá trị văn học lớn, đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam, đặc biệt là thể ký. Thông qua “Niên phả lục”, Trần Tiến đã dựng lại tình hình triều chính, lề lối thi cử, quan hệ giữa các đồng liêu, bạn bè, gia tộc, chòm xóm của xã hội đương thời, đặc biệt là cuộc nổi dậy của ba ông hoàng (Duy Mật, Duy Quy, Duy Chúc) ở Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) những năm (1738 - 1739) và Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh... Cho đến nay chưa có tài liệu nào ghi chép đầy đủ, chính xác đến từng ngày, từng giờ, địa điểm, số quân, thuyền bè, súng ống, diễn biến chiến sự... như trong bộ “Niên phả lục” của Trần Tiến. Các sử gia có thể dùng tư liệu này để bổ sung cho chính sử và lịch sử dân tộc những năm giữa thế kỷ XVIII còn thiếu trong chính sử. Trong hơn 20 năm làm quan, Trần Tiến còn có nhiều đóng góp trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Ông từng nhiều lần ứng vụ trường thi, tham gia khảo khóa; được cử làm Giám khảo các trường thi Hương Sơn Tây (1750), đồng khảo thí khoa thi Hội (1752), khoa này Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn; Khảo thí khoa thi Hội năm 1766. 
      Cũng theo Niên phả lục(20) hiện lưu giữ tại nhà thờ, thì một đêm Trần Cảnh mơ thấy ông nội mình là Trần Phúc (bố của Trần Thọ) nói “Cháu ta đỗ Tiến sĩ mà ta không có nơi ngồi” và đã quyết định cho “dựng riêng một từ đường làm nơi tế tự”. Như vậy, vào năm 1718, Trần Cảnh đã cho xây dựng nhà thờ ngay trên phần đất của nhà mình. Năm Canh Dần (1770), “Nhà thờ lợp lại ngói, đồng thời bốn mặt xây tường bao bọc”(21). Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX - XX), di tích được trùng tu, tôn tạo khang trang. Đóng góp vào việc trùng tu, tôn tạo có nữ nhân (con gái) “…Trần Thị Liêm, Trần Thị Nhữ, Trần Thị Mao...”(22). Nhà thờ tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng trên 3 sào Bắc Bộ, phía trước có hồ nước tạo thế tụ thủy, kiến kiến trúc kiểu chữ Nhị (=) gồm tiền tế 3 gian 2 dĩ và 3 gian hậu cung, chất liệu bằng gỗ tứ thiết, các chân cột kê trên đá tảng, kết cấu vì kèo kiểu kẻ chuyền, kèo cầu. Ngăn cách giữa tiền tế và hậu cung là một khoảng sân lọng nhỏ. Phía Bắc và phía Nam có sân rộng và nhiều cây xanh quanh hồ bán nguyệt. Trải qua thời gian và chiến tranh, các hạng mục công trình bị xuống cấp, được tu sửa và công trình còn được biết đến là kiến trúc và dấu ấn thời Nguyễn, nhưng nếp nhà của nhà thờ hiện nay vẫn tồn tại trên mảnh đất cũ (từ lúc khởi dựng). Để tưởng nhớ công đức của các vị tiên tổ, hàng năm, vào ngày 12 và 13 tháng Giêng (âm lịch) con cháu trong dòng tộc tổ chức “Lễ giỗ tổ” rất trọng thể. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, công việc chuẩn bị của “Lễ giỗ tổ” được tiến hành từ sớm. Ngay sau Lễ giỗ tổ của năm trước kết thúc, dòng họ đã họp bàn, phân công phần ruộng hương hỏa của nhà thờ cả thảy là 15 mẫu 3 sào 5 thước, chiểu theo thứ tự để cai quản cày cấy lấy hoa lợi sắm sửa lễ vật, phụng sự việc tế lễ như 10 mâm gạo nếp, gạo tẻ, một con lợn và hai mâm cỗ cáo tế. Người nào đến phiên mà biện lễ tạp nhạp, cùng các tệ lười biếng, bản tộc bắt phạt gà xôi, trầu rượu, trị giá một quan hai mạch rồi truất phiên của người đó. Người trông coi ruộng năm đó cũng bị trừng phạt. “Vào ngày 18 tháng 12 cùng năm, dòng họ lại hội họp, soạn lại sổ ghi ruộng, sổ ghi tên người, cùng các lệ bạ, giao cho người đến phiên năm sau giữ đồng thời phân công người đi dọn dẹp, phong quang phần mộ của các vị tổ tiên”(23). Trong “Lễ giỗ tổ” có tổ chức rước từ nhà thờ đến lăng mộ Tiến sĩ Trần Cảnh, sau đó trở về làm lễ hợp tế. Hiện nay, “Lễ giỗ tổ” vẫn được duy trì và tổ chức, thu hút đông đảo các thế hệ con cháu trong dòng họ Trần trên khắp mọi miền tổ quốc cùng hành hương về nhà thờ, thành kính chiêm bái thắp hương tổ tiên, ôn lại truyền thống vẻ vang của dòng họ, thắt chặt tình đoàn kết, yêu thương, gắn bó. 
      Hiện nay, tại nhà thờ còn lưu giữ được nhiều cổ vật, di vật có giá trị ở nhiều chất liệu khác nhau, như giấy, gỗ, gốm, đá...Đặc biệt là cuốn “Niên phả lục” bằng chữ Hán do Phó đô ngự sử Trần Tiến viết vào niên hiệu Cảnh Hưng 25 (1764), 13 tấm bia đá có niên đại từ thời hậu Lê đến thời Nguyễn (1 bia thế kỷ XVIII, 6 bia thế kỷ XIX và 6 bia thế kỷ XX), hệ thống câu đối, đại tự đều được tạo dựng từ thời hậu Lê đến Nguyễn mang nội dung giáo dục sâu sắc cùng hai tấm biển hiệu “Ân tứ vinh quy” (ban ơn cho vinh quy bái tổ) và “Trí sỹ” (cho về nghỉ hưu) do vua ban cho các vị Tiến sĩ có niên đại vào thời hậu Lê và thời Nguyễn. Đặc biệt, tại nhà thờ còn bảo lưu được đầy đủ 33 đạo sắc phong thời hậu Lê, gồm các niên hiệu Cảnh Hưng, Chính Hòa, Long Đức, Cảnh Trị, Vĩnh Khánh và Vĩnh Hựu. Đây là kho cổ vật quý hiếm của dòng họ Trần Điền Trì và huyện Nam Sách nói riêng, tỉnh Hải Dương nói chung. Các cổ vật này góp phần khẳng định vai trò, vị thế công lao đóng góp to lớn, việc gìn giữ những di sản văn hóa quý báu của 3 vị tiến sĩ dòng họ Trần đối với quê hương, đất nước. 
      Cùng với nhà thờ họ, phần mộ của ba vị Tiến sĩ được táng tại quê hương, bản quán và được các thế hệ của dòng họ trân trọng gìn giữ một cách cẩn thận. Mộ Tiến sĩ Trần Thọ đặt tại Đống Làng thuộc xóm 2, thôn Trực Trì, cách nhà thờ khoảng 1,5 km về hướng Bắc. Mộ Tiến sĩ Trần Cảnh đặt tại khu Lăng Đình Gia thuộc xóm 3, thôn Trực Trì, cách nhà thờ khoảng 300 m về phía Tây Nam. Mộ Tiến sĩ Trần Tiến đặt tại đống Đồng Thành thuộc thôn Đông Thôn), cách nhà thờ 3 km về phía Đông Nam. 
      Sau khi được được Ủy ban nhân tỉnh Hải Dương xếp hạng năm 2005, Ban quản lý di tích được thành lập, đồng chí Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Quốc Tuấn làm Trưởng ban, đồng chí Trưởng ban văn hoá, trưởng tộc họ Trần là phó ban, thành viên là lãnh đạo các thôn trong xã và dòng họ. Riêng họ Trần có Ban đại diện dòng họ, quy định mỗi chi có 3 người. Ngoài ra, các chi phái ở các nơi khác cũng có thành viên đại diện. Ban quản lý có nội quy, quy chế hoạt động rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên nên việc bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, môi trường, các giá trị vật thể và phi vật thể như: cổ vật, di vật..., nghi thức tế lễ và ngày hợp tế tại di tích được bảo tồn khá tốt, tiếp tục duy trì, mở rộng và phát huy giá trị khiến cho Lễ hợp tế (Lễ giỗ tổ) vào ngày 12 và 13 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, con cháu trong dòng họ từ khắp mọi miền tổ quốc về chiêm bái, tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, thắt chặt thêm tình làng ngõ xóm, củng cố khối đại đoàn kết trong mỗi gia đình của dòng tộc. Việc UBND tỉnh xếp hạng Nhà thờ ba vị Tiến sĩ họ Trần Điền Trì thể hiện rõ sự quan tâm của các cấp, các ngành trong việc tri ân công lao của ba vị Tiến sĩ Trần Thọ, Trần Cảnh và Trần Tiến dòng họ Trần đối với quê hương, đất nước. Sự đóng góp của ba vị Tiến sĩ qua các tác phẩm còn được sử sách ghi lại, như Nhuận Phủ Thi tập (hiện còn 3 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn), Niên phả lục, Minh nông chiêm phả, Đăng khoa lục sưu giảng, Cát Xuyên thi tập, Cát Xuyên tiệp bút, đã khẳng định tài năng, trí tuệ, trong công cuộc xây dựng quê hương, đất nước, xây dựng phát triển từng lĩnh vực cụ thể về văn học, nông nghiệp,...Ngoài ra trong các lần được triều đình cử đi sứ phương Bắc, các vị Tiến sĩ đều hoàn thành trọng trách và giữ gìn được thể diện quốc gia, học hỏi những điều hay, tiến bộ để áp dụng, mang lại cho vương triều và quốc gia. Từ đó, các vị mang lại thanh danh cho cá nhân, gia đình, dòng họ và quê hương bản quán.
      Với việc đề cao nguồn cội và nguyên lý “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”, sau khi chế độ khoa cử thời phong kiến chấm dứt, việc học không phải chỉ để ra làm quan mà học đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người con trong dòng họ. Vì vậy, mỗi gia đình, mỗi người con họ Trần Điền Trì vẫn miệt mài, tiếp tục động viên con em hăng say học tập để báo công với tiên tổ, tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ mình bằng các hoạt động khuyến học một cách hiệu quả. Năm 2000, dòng họ đã thành lập Ban khuyến học và xây dựng quy ước khuyến học. Gần 20 năm qua, hoạt động khuyến học dòng họ được duy trì thường xuyên liên tục, quyên góp hàng trăm triệu, tặng thưởng cho hàng trăm lượt học sinh giỏi của dòng họ. Điều đó đã góp phần quan trọng vào việc khuyến học, khuyến tài, khích lệ, động viên các thế hệ học sinh trong dòng họ học giỏi và phấn đấu thi đỗ vào các trường, đại học, cao đẳng,... Có những năm cả dòng họ có hơn 30 học sinh đỗ vào trường đại học, trong số đó chiếm non nửa là con em dòng họ trong làng. Hiện nay dòng họ Trần Điền Trì có gần 200 cử nhân, hơn 30 thạc sĩ và 6 tiến sĩ, nhiều gia đình có 100% con cái có trình độ đại học. Song song với việc tiếp tục duy trì và phát huy truyền thông hiếu học và khoa bảng, dòng họ Trần Điền Trì cùng với cộng đồng làng xã tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương, đất nước; xây dựng làng văn hóa và nông thôn mới.
      Cùng với các hoạt động nêu trên, mấy thập kỷ gần đây nhờ sự đoàn kết, thống nhất các gia đình, các thế hệ dòng họ cùng hướng về cội nguồn, nhiều công trình nghiên cứu cũng như việc trùng, tu tôn tạo nhà thờ họ đã được khởi xướng và thực hiện thành công tốt đẹp, như biên soạn bổ sung, in ấn tộc phả; quy hoạch, tôn tạo phần mộ ba vị Tiến sĩ; khôi phục nhà tiền tế; xây dựng cổng, nhà bia, lát sân, tường bao; trùng tu tòa hậu cung... Những việc làm này vừa thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” tri ân tổ tiên, vừa duy trì và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa vật thể và phi vật thể của khu di tích cho các thế hệ đương thời và kế tiếp. 
      3. Một số kiến nghị mang tính giải pháp để dòng họ và chính quyền địa phương gìn giữ, phát huy giá trị di sản tại Nhà thờ ba vị Tiến sĩ họ Trần Điền Trì trong thời gian tới hiệu quả hơn
      Trong các giai đoạn, thời điểm nhất định, những ghi nhận, đánh giá về công lao, giá trị di sản của ba vị Tiến sĩ dòng họ Trần Điền Trì lại càng được khẳng định rõ ràng trong sự phát triển của từng lĩnh vực, để rồi được tôn vinh trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Các giá trị văn hóa về vật thể và phi vật thể mà dòng họ Trần Điền Trì đang lưu giữ và bảo tồn sẽ là mạch nguồn để các thế hệ con cháu đời tiếp đời nối nhau cùng ca tụng, lưu truyền cho thế hệ trong dòng họ và cộng đồng nhân dân, những nhà nghiên cứu hiểu hơn về lịch sử, công trạng, những nghi thức, nghi lễ, giá trị về cổ vật... có cái nhìn toàn diện, đánh giá khách quan, ghi nhận nhằm tôn vinh một cách phù hợp, xứng đáng với công trạng của ba vị Tiến sĩ trong lịch sử dân tộc.
      Thứ nhất, căn cứ kết quả Hội thảo khoa học về truyền thống văn hóa khoa bảng dòng họ Trần Điền Trì, do Trung tâm hoạt động Văn hóa khoa học Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Viện Sử học, Quỹ hỗ trợ Bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Hải Dương tổ chức ngày 13/6/2019. Dòng họ Trần Điền Trì cùng với các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn của Sở VHTTDL có văn bản đề nghị Cục di sản văn hóa xem xét để có hình thức tôn vinh ở mức cao hơn bằng việc cho phép lập hồ sơ xếp hạng Di tích quốc gia năm 2019, thỏa ước mong của dòng họ và chính quyền sở tại.
   Thứ hai, UBND huyện Nam Sách, UBND xã Quốc Tuấn cùng các ban ngành đoàn thể, tổ chức chính trị trên địa bàn huyện cần quan tâm chỉ đạo xây dựng kế hoạch phù hợp để nêu gương, chính sự vào cuộc của các tổ chức, cộng đồng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, đoàn viên thanh niên, học sinh với những buổi học ngoại khóa tại di tích Nhà thờ họ Trần Điền Trì và các di tích phụ cận để hiểu hơn về lịch sử vùng đất, đề cao việc học, công trạng của các vị Tiến sĩ họ Trần Điền Trì, các danh nhân địa phương nhằm trang bị và bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng nhận diện, trải nghiệm thực tế di sản văn hóa, học đi đôi với hành, xây dựng môi trường học tập thân thiện, học sinh tích cực.
Thứ ba, dòng họ cần tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu bổ sung các nguồn tư liệu từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 (trong điều kiện có thể) để làm tư liệu phục dựng các nghi lễ, nghi thức của dòng họ; phục hồi cảnh quan di tích, phần mộ của ba vị Tiến sĩ tại địa phương một cách cụ thể, khoa học. Tiếp tục tuyên truyền Luật Di sản văn hóa và các văn bản quy định của nhà nước về bảo vệ di tích, tránh xâm hại làm ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường, không gian, giá trị vật thể, phi vật thể tại di tích. Dòng họ cần tích cực huy động mọi nguồn lực, sử dụng có hiệu quả các nguồn công đức, đóng góp của con cháu trong dòng họ nhằm từng bước tu bổ, tôn tạo di tích ngày một khang trang, tố hảo, tương xứng với công lao to lớn của ba vị Tiến sĩ trong lịch sử nước nhà.
Vũ Đình Tiến
Giám đốc Bảo tàng tỉnh
(1). Nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
(2). Bia “Đề danh tiến sĩ khoa Canh Tuất, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670)” (có ghi tên Trần Thọ) hiện lưu giữ tại Văn miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội.
(3). Thác bản bia hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán nôm, mang ký hiệu N0.12654-55.
(4). Thác bản bia hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán nôm, mang ký hiệu N0. 12710-11.
 ( 5).Thác bản bia hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán nôm, mang ký hiệu N0. 8869/8870/8871/8872.
(6). Sách Bắc Kỳ tạp lục, trang 357.
(7). Nay là xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
(8). Sắc ban cho bà Đàm Thị Cấn (mẹ Tiến sĩ Trần Thọ) vào năm Chính Hòa thứ 14 (1693) hiện lưu giữ tại Nhà thờ họ Trần.
(9). Niên phả lục, sđd, trang 98.
(10). Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí (Quan chức chí), tập I, II, Nxb Giáo dục năm 2006 
(11). Niên phả lục, sđd, trang 107. 
 (12). Sách “Tìm hiểu tác gia Hán nôm Hải Hưng” - Ty Văn hóa Hải Hưng xuất bản năm 1973, trang 84, khi viết về Trần Tiến lại ghi ông sinh năm 1708 và không ghi năm mất.
(13). Bia “Đề danh Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748)” (có ghi tên Trần Tiến) hiện lưu giữ tại Văn miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội. 
(14). Niên phả lục, sđd, trang 276. 
(15). Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập III, Viện Sử học dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa năm 2006, trang 528.
(16). Thác bản bia lưu tại Viện Nghiên cứu Hán nôm, mang ký hiệu N0.17242. 
(17). Niên phả lục, sđd trang 122,125, 126.
(18). Tức Trần Cảnh.
(19). Trích “Bài văn bia hậu bụt về tướng công” năm Quý Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng 24 (1763) hiện lưu giữ tại chùa Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
(20). Niên Phả Lục bằng chữ Hán do Phó Đô ngự sử Trần Tiến viết vào năm Cảnh Hưng 25 (1764), Nguyễn Đăng Na sưu tầm, khảo dịch, chú thích và giới thiệu - Nhà xuất bản Văn học năm 2003.
(21). Niên Phả Lục, sđd trang 269.
(22). Trích trong bia “Khắc xương quyết hậu” dựng ngày 15 tháng Giêng năm Bảo Đại 17 (1942) hiện lưu giữ tại di tích.
(23). Trích trong tấm bia “Tích hậu lưu quang” (Công lao sự nghiệp mà sâu dầy thì ân đức sẽ lưu truyền mãi mãi đời sau) niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842) hiện lưu giữ tại di tích. 
 
Các tin mới hơn
NGÔI ĐÌNH THỜ ĐỨC ĐẠI VƯƠNG CÙNG 2 PHU NHÂN CÓ CÔNG GIÚP VUA LÊ THÁI TỔ ĐÁNH GIẶC MINH(06/10/2021)
ĐÌNH QUAN ĐÌNH VÀ SỰ TÍCH 3 VỊ THÀNH HOÀNG(09/09/2021)
NGÔI ĐÌNH THỜ BA VỊ THÀNH HOÀNG CÓ CÔNG GIÚP HAI BÀ TRƯNG ĐÁNH GIẶC(29/07/2021)
BẢNG NHÃN ĐỖ UÔNG - CÔNG THẦN TIẾT NGHĨA TRIỀU LÊ(17/06/2021)
HOÀNG GIÁP NGUYỄN PHỤC VÀ NHỮNG DI TÍCH THỜ ÔNG TẠI HẢI DƯƠNG(28/05/2021)
Các tin cũ hơn
NÉT ĐẸP LỄ THƯỢNG ĐIỀN TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN CAO(26/08/2019)
Tìm kiếm
Video
Ảnh Tư Liệu
Quảng cáo
na
na
na
na
na
na
Liên kết website
http://dochoi.haiduong.net.vn http://haiduong.net.vn

Mua sắm đồ chơi online, Chuyên đồ chơi điều khiển từ xa, chuyên xếp hình Lego, chuyên siêu xe, bán buôn bán lẻ đồ chơi, hải dương, đồ chơi rẻ nhất, đồ chơi độc đáo, đồ chơi hải dương uy tín